Wednesday, June 4, 2008

Một chút bâng khuâng ngày tôi ở TOKYO

Hôm nay lang thang ở Nguyễn Huệ thấy mấy cái chân máy chụp hình khá đẹp. Những chân máy này mà gắn vào máy chụp hình thì hoành tráng phết, vững chắc chụp đủ các góc độ không phải tìm chổ đặt máy gì cả.

Thấy chân máy chụp hình mới nhớ lại thời gian tôi ở Nhật. Tôi cũng được em Thắng cho một cái chân máy chụp hình như thế nhưng nhỏ hơn. Lúc đó mình khái lắm, vì có nó mình có thể đặt máy lên cân đong đo đếm để có được những khung ảnh đẹp. Lúc đó mọi việc thấy bình thường, giờ về VN rồi mới thấy rằng những lúc như vậy cũng thật thú vị đấy chứ. Một cậu nhóc cũng như mình thôi, đi học xa nha, giúp đỡ mọi người một cách vô tư, nhiệt tình mà mình sẽ khó gặp như ở VN.

Ngày đó, mọi người còn tổ chức đi Cung điện hoàng gia vào dịp ngày sinh của Nhật hoàng, đi xem lá đỏ và đi trượt tuyết nữa. Rất tiếc là chuyến trượt tuyết thì lại không tham gia rồi. Mà cũng vui, ở Tokyo rộng như thế nhưng hễ cứ kéo nhau đi khu vực mua sắm hàng điện tử Akihabara lớn nhất ở Tokyo thì lại gặp thêm một vài nhóm người Việt nữa, lại thăm hỏi nhau cũng vui cung quý lắm.

Có như thế chúng ta mới thấy được rằng: đi một ngày đàng học một tràng khôn. Có đi, có tiếp cận những môi trường mới chúng ta mới thấy quý những cái mà mình đang có hiện tại và tiếp sức cho tương lai ngày mai.

Tuesday, June 3, 2008

[BioCaster Portal] Notify of ontology download page

[BioCaster Portal] Notify of ontology download page. Đây là thông báo source của Onotlogy của chúng tôi nhận được từ BioCaster portal được người dùng download. Cũng vui lắm vì những nghiên cứu của mình được người khác quan tâm và sử dụng trong các nghiên cứu khác.

Bio-Ontology của dự án BioCaster là một ontology về các căn bệnh (dịch tể học), và về địa danh hành chính (Geo-Ontology) trên toàn thế giới. Phần thông tin về y học thì có một nhóm phát triển, phần tôi chỉ phải triển phần nội dung và quan hệ liên quan đến địa danh mà thôi. Dữ liệu địa danh phần lớn mà chúng tôi sử dụng được rút trích từ Wikipedia.org , đây là bộ bách khoa toàn thư được cư dân mạng cập nhật nên thông tin cũng rất có ý nghĩa và tương đối đầy đủ.

Những thông báo dạng như thế này nhằm mục đích để chúng tôi nhận được những phản hồi từ phía người dùng nhằm update cho phiên bản của mình càng tốt hơn.

Hiện nay, Bio-Ontology đã update được phiên bản thứ 2 với 8 ngôn ngữ trong đó. Trong đó các phần thông tin về bệnh tật và địa danh được cập nhật rất nhiều so với phiên bản 1.0 trước đó.

Thông tin xin xem thêm: BioCaster page.

Thursday, March 6, 2008

Flickr

This is a test post from flickr, a fancy photo sharing thing.

Tuesday, January 29, 2008

Các kho lưu dữ liệu miễn phí trên mạng

Những website lưu trữ này cho phép mọi người chia sẻ file có dung lượng lớn hoặc mở ra xem trên bất cứ máy tính kết nối Internet nào. Tất cả đều dễ sử dụng và một số còn tự động cập nhật file mới trong ổ cứng của người sử dụng. Điều này sẽ rất bổ ích nếu chúng ta cần gửi dữ liệu lớn cho nhiều người dùng khác trên mạng hoặc trong trường hợp người nhận offline.

Box.net: 1 GB miễn phí và 5 GB nếu người sử dụng trả thêm 5 USD/tháng.

Streamload MediaMax: Miễn phí 25 GB upload (tải lên) và 1 GB download (tải xuống) mỗi tháng. Nếu trả thêm 4,95 USD/tháng, người sử dụng sẽ có ổ lưu trữ ảo 100 GB và có thể tải về 10 GB/tháng.

MailBigFile: Cho phép gửi file nhanh chóng, dễ dàng với kích thước lên đến 1 GB mà không cần đăng ký tài khoản. Mail Big File hỗ trợ mã hóa 128 bit, tức an toàn hơn cả các dịch vụ e-mail thông thường.

Pando: Một dịch vụ kết hợp của YouSendIt, BitTorrent và AIM.

MooLoad: Kích thước file tối đa là 500 MB và sẽ chỉ tự động xóa nếu sau 30 ngày không có ai tải xuống.

Diino: Ngoài việc cho phép chia sẻ file dung lượng lớn dễ dàng, Diino còn hỗ trợ tổ chức ảnh số, chơi nhạc và truy cập thông tin an toàn.

bbDRIVE: Lưu trữ 10 GB và không giới hạn kích thước file.

Picture9: Nơi lưu trữ ảnh và tạo slideshow cho blog, đấu giá eBay và MySpace.

FileXoom: Kích thước file tối đa 100 MB, khả năng lưu trữ 2 GB và hỗ trợ tất cả các định dạng file.

zSHARE: Kích thước file 100 MB, thời hạn 10 ngày (chỉ bị xóa nếu không có ai tải trong vòng 10 ngày).

BigFileUpload: Kích thước file 100 MB, không giới hạn thời gian lưu trữ.

GimeHost: Tải file với dung lượng 250 MB.

SendOver: Kích thước file lên tới 2 GB nhưng thời gian tồn tại của file chỉ là 7 ngày.

MegaShares: Kích thước file 1,5 GB và sẽ bị xóa sau 25 ngày nếu không có ai tải về.

FileFactory: Kích thước file 1,5 GB, cho phép tải xuống 25 lần trong thời gian 7 ngày.

Spread-It: Kích thước file 500 MB với thời hạn 14 ngày.

XtraFile: Kích thước file 250 MB, thời hạn: 15 ngày

RapidSharing: Kích thước file 50 MB với thời hạn 60 ngày.

YouSendIt: Kích thước file 1 GB, giới hạn 25 lượt tải và thời gian tồn tại 7 ngày.

RapidShare: Kích thước file tối đa 100 MB với thời gian tồn tại 30 ngày.

Inbox.com: Webmail miễn phí với dung lượng 2 GB.

Friday, January 25, 2008

Những vấn đề liên quan đến bài toán Bóc tách nội dung

Những vấn đề phát sinh xung quanh bài toán bóc tách nội dung trang WEB vẫn còn tiếp diễn. Lần này là chế độ BẢNG MÃ của trang WEB. Không phải mọi trang đều có bảng mã giống nhau nên chúng ta cần phải tự nhận ra BẢNG MÃ đó để chuyển về đúng bảng mã mà chúng ta cần để xử lý cho thống nhất.
Những bảng mã thường xuất hiện:
. NCR Decimal
. UTF-8
. ISO-8859-1
. Windows CP1258
Như thế sẽ cần đến bộ chuyển mã cho nội dung nhận được từ những bảng mã này về mã UNICODE.

Một bộ chuyển mã được đóng gói thành thư viện hỗ trợ môi trường .NET là : vnConvert của tác giả Nguyễn Đức Khoan. Hệ thống còn được đóng gói thành phần mềm với các tính năng:
- Chuyển mã tiếng việt cho MS Access, MS SQL Server, Oracle database. (Đã có chức năng chuyển mã tiếng việt cho Oracle).
- Chuyển mã Clipboard: văn bản trong clipboard sau khi chuyển đổi sẽ trả về dạng Text không có định dạng.
- Hỗ trợ chuyển đổi qua lại giữa các bảng mã tiếng việt Unicode dựng sẵn, Unicode tổ hợp, VNI-Windows, TCVN3 (ABC), UTF-8, Windows CP1258 và NCR Decimal.
- Chuyển tất cả các mã tiếng việt có dấu trên thành mã KHÔNG DẤU.
- Có thể tự nhận dạng mã tiếng việt khi chuyển đổi.

Link: http://luudiachiweb.com/convertdb/

Tuesday, January 22, 2008

Ứng dụng C# gọi chương trình console mà không xuất hiện cửa sổ DOS

Trong quá trình lập trình, tôi sử dụng đến một chương trình DOS để thực hiện các tác vụ nền, vì là tác vụ nền nên không muốn nó hiển thị lên cửa sổ đen của DOS khi nó được gọi. Sau đây là cách thực hiện (môi trường C#):
// This code needs the "System.Diagnostics" library
// Application path and command line arguments
string ApplicationPath = "C:\\example.exe";
string ApplicationArguments = "-c -x";
// Create a new process object
Process ProcessObj = new Process();
// StartInfo contains the startup information of the new process
ProcessObj.StartInfo.FileName = ApplicationPath;
ProcessObj.StartInfo.Arguments = ApplicationArguments;
// These two optional flags ensure that no DOS window appears
ProcessObj.StartInfo.UseShellExecute = false;
ProcessObj.StartInfo.CreateNoWindow = true;
// If this option is set the DOS window appears again :-/
// ProcessObj.StartInfo.WindowStyle = ProcessWindowStyle.Hidden;
// This ensures that you get the output from the DOS application
ProcessObj.StartInfo.RedirectStandardOutput = true;
// Start the process
ProcessObj.Start();
// Wait that the process exits
ProcessObj.WaitForExit();
// Now read the output of the DOS application
string Result = ProcessObj.StandardOutput.ReadToEnd();

Friday, January 18, 2008

Những vấn đề liên quan đến bài toán Bóc tách nội dung


Phương pháp mà tôi sử dụng cho bài toán bóc tách nội dung chính trang web là phân tích mã HTML để tạo nên cây cấu trúc của trang WEB. Tuy nhiên, để xác định tốt nội dung chính, hệ thống cần giải quyết những vấn đề sau:

1. Lỗi trong TAG của HTML

Trường hợp lỗi của TAG HTML có hai dạng: lỗi có tag mở nhưng không có tag đóng và lỗi sử dụng tag HTML không hợp lệ, sai cú pháp.

Trong trường hợp TAG đóng không được sử dụng, TAG đi sau sẽ có nhiệm vụ tìm kiếm TAG tương ứng để đóng TAG đã mở trước đó.
Còn trường hợp TAG sử dụng bị lỗi, thiếu dấu CloseTag chẳng hạn, thì trình duyệt sẽ không thể hiện đúng nội dung cho nên chương trình cũng sẽ bỏ qua trường hợp này, coi như lỗi dữ liệu.

2. Dữ liệu được tổ chức hỗn loạn


Trường hợp dữ liệu được nhúng nhiều thành phần khác nhau: đoạn văn bản nội dung, bảng số liệu, hình ảnh minh họa, thông tin chú thích. Trong trường hợp này chương trình sẽ dò tìm để loại bỏ những TAG không cần thiết như , tag có nội dung theo dạng bảng số liệu.

Đau đầu nhất vẫn là trường hợp các đoạn dữ liệu được tổ chức xen kẽ với các đoạn thông tin kính kèm theo, thông tin quảng cáo ... Trong trường hợp này cần phải có giải pháp để loại bỏ những đoạn dữ liệu không cần thiết đó như: quảng cáo, liên kết liên quan...

3. Xác định vùng nội dung chính

Trong bài toán Bóc tách nội dung trang Web thì vấn đề lớn nhất là xác định nội dung chính của trang web, loại bỏ đi những nội dung dư thừa không cần thiết. Đây là một vấn đề khó và nó ảnh hưởng đến kết quả bài toán, hơn nữa chất lượng loại vùng nội dung dư thừa bị còn tùy thược vào bài toán cụ thể để quyết định nội dung chính gồm những phần nào. Vấn đề này tôi xin để trong một bài viết riêng để xử lý cho vấn đề này.

Saturday, January 12, 2008

Tìm kiếm tự động văn bản song ngữ Anh-Việt từ Internet

Hôm nay tôi bắt đầu start mạnh mẽ lại vấn đề của riêng mình với một đề tài mới: ParallelDocSearch. Tôi sẽ tóm lược phần nào những thông tin về đề tài và sẽ cập nhật những thông tin đi theo tiến độ thực hiện của đề tài, hy vọng những chia sẽ này có thể để những bạn quan tâm đến vấn đề này cùng trao đổi, cũng có thể để các bạn không trong domain này có thể cùng nhau góp ý cho cách làm việc một project dạng này.


Tìm kiếm tự động văn bản song ngữ Anh-Việt từ Internet

Mục tiêu đề tài: Xây dựng hệ thống tìm kiếm tự động những bản dịch song ngữ Anh Việt từ nguồn Internet thông qua hệ thống tìm kiếm Google và các công cụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên.

Nội dung đề tài:
Sử dụng hệ thống dịch tự động Anh-Việt để dịch tự động văn bản tiếng Anh ra văn bản tiếng Việt. Từ văn bản tiếng Việt này, hệ thống tiến hành rút bộ từ khóa và đưa vào bộ máy tìm kiếm Google để rút ra tập liên kết đến các văn bản có chứa bộ từ khóa này. Từ các văn bản tìm kiếm được, chương trình tiến hành đánh giá mức độ tương đồng giữa hai văn bản để xác định văn bản có khả năng cao nhất là văn bản dịch của văn bản tiếng Anh ban đầu.
Mô hình Tìm kiếm tự động văn bản song ngữ Anh-Việt từ Internet

Kết qủa đề tài: Chương trình có khả năng đưa vào một tài liệu tiếng Anh, hệ thống sẽ tự động tìm kiếm bản dịch có khả năng nhất nếu có từ nguồn Internet.

Sunday, January 6, 2008

SOA - Kiến trúc định hướng dịch vụ

Download:

Service Oriented Architecture
Áp dụng kiến trúc hướng dịch vụ cho hành chính công
Service.Oriented.Architecture.in.C.Sharp.2005.2nd.Edition.Aug.2006.pdf

Phần mềm đang ngày càng trở nên phức tạp quá mức và dường như đang vượt khỏi khả năng kiểm soát của các mô hình phát triển hiện có. Có một kiến trúc phần mềm mới được kỳ vọng là chìa khóa giải quyết vấn đề phức tạp này...

Hình ảnh

"Mọi việc nên thực hiện theo cách đơn giản đến mức có thể ..." - Albert Einstein, đây cũng chính là vấn đề đặt ra hiện nay trong lĩnh vực phát triển phần mềm. Một thực trạng đáng buồn là có rất nhiều hệ thống phần mềm được thực hiện quá phức tạp, chi phí phát triển và bảo trì cao chót vót, đặc biệt với các hệ thống phần mềm cao cấp. Hàng chục năm qua, các kiến trúc phần mềm đã cố gắng giải quyết vấn đề này. Thế nhưng độ phức tạp vẫn tiếp tục tăng và dường như vấn đề này đã vượt quá khả năng xử lý của các kiến trúc truyền thống. Điều này một phần do ngày càng xuất hiện nhiều công nghệ mới tạo nên môi trường không đồng nhất, một phần do yêu cầu trao đổi tương tác giữa các hệ thống phần mềm với nhau. Những yêu cầu truyền thống đặt ra đối với tổ chức CNTT vẫn còn đó, cùng lúc phải đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu mới, đòi hỏi phải liên tục giảm chi phí, có khả năng sử dụng và tích hợp các thành phần mới... Tất cả đã tạo nên một áp lực nặng nề đối với các nhà phát triển phần mềm.

Chúng ta đã có các kiến trúc như OOP (Object Oriented Programming), COM/DCOM (Distributed Common Object Model), CORBA (Common Object Request Broker Architecture)... và nhiều phương thức tích hợp ứng dụng nhanh và tốt hơn. Thế nhưng vẫn chưa có giải pháp nào hoàn chỉnh. Giờ đây, SOA đang được xem là 'ứng cử viên sáng giá' có thể đảm nhận trọng trách này và được kỳ vọng tạo nên cuộc cách mạng trong kiến trúc phần mềm.

SOA là gì?

SOA - Service Oriented Architecture (Kiến trúc Định hướng Dịch vụ), theo định nghĩa của DotNetGuru, là "Khái niệm về hệ thống trong đó mỗi ứng dụng được xem như một nguồn cung cấp dịch vụ".

Dịch vụ là yếu tố then chốt trong SOA. Có thể hiểu dịch vụ như là hàm chức năng (mô-đun phần mềm) thực hiện qui trình nghiệp vụ nào đó. Một cách cơ bản, SOA là tập hợp các dịch vụ kết nối 'mềm dẻo' với nhau (nghĩa là một ứng dụng có thể 'nói chuyện' với một ứng dụng khác mà không cần biết các chi tiết kỹ thuật bên trong), có giao tiếp (dùng để gọi hàm dịch vụ) được định nghĩa rõ ràng và độc lập với nền tảng hệ thống, và có thể tái sử dụng. SOA là cấp độ cao hơn của phát triển ứng dụng, chú trọng đến qui trình nghiệp vụ và dùng giao tiếp chuẩn để giúp che đi sự phức tạp kỹ thuật bên dưới.

Thiết kế SOA tách riêng phần thực hiện dịch vụ (phần mềm) với giao tiếp gọi dịch vụ. Điều này tạo nên một giao tiếp nhất quán cho ứng dụng khách (client) sử dụng dịch vụ bất chấp công nghệ thực hiện dịch vụ. Thay vì xây dựng các ứng dụng đơn lẻ và đồ sộ, nhà phát triển sẽ xây dựng các dịch vụ tinh gọn có thể triển khai và tái sử dụng trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ. Điều này cho phép tái sử dụng phần mềm tốt hơn, cũng như tăng sự linh hoạt vì nhà phát triển có thể cải tiến dịch vụ mà không làm ảnh hưởng đến ứng dụng client sử dụng dịch vụ.

Thật ra triết lý SOA không hoàn toàn mới, DCOMCORBA cũng có kiến trúc tương tự. Tuy nhiên, các kiến trúc cũ ràng buộc các thành phần với nhau quá chặt, ví dụ như các ứng dụng phân tán muốn làm việc với nhau phải đạt được 'thỏa thuận' về chi tiết tập hàm API, một thay đổi mã lệnh trong thành phần COM sẽ yêu cầu những thay đổi tương ứng đối với mã lệnh truy cập thành phần COM này.

Ưu điểm quan trọng nhất của SOA là khả năng kết nối "mềm dẻo" (nhờ sự chuẩn hóa giao tiếp) và tái sử dụng. Các dịch vụ có thể được sử dụng với trình client chạy trên nền tảng bất kỳ và được viết với ngôn ngữ bất kỳ. (Ví dụ, ứng dụng Java có thể liên kết với dịch vụ viết trên nền .NET và ngược lại).

SOA dựa trên 2 nguyên tắc thiết kế quan trọng:
    Mô-đun: Tách vấn đề lớn thành nhiều vấn đề nhỏ.

    Đóng gói: Che đi dữ liệu và lô-gic trong từng mô-dun (hay 'hộp đen') đối với truy cập từ ngoài.

SOA và OOP: Không loại trừ nhau

Có ý kiến cho rằng SOA (Service-Oriented - định hướng dịch vụ) sẽ thay thế phương thức lập trình hướng đối tượng - OOP (Object Oriented Programming). Ít nhất thì đây là thông điệp của Don Box, phụ trách bộ phận thiết kế Indigo - công nghệ tích hợp trong hệ điều hành Windows Longhorn (phiên bản hệ điều hành Windows thế hệ kế tiếp) mà theo Microsoft sẽ hỗ trợ hoàn toàn SOA. Thực sự đây chỉ là tuyên bố mang tính "giật gân", gần giống như tuyên bố AOP thay thế OOP (tham khảo "AOP=Aspect Oriented Programming", TGVT A số 01/2003 - trang 60).

SOA sử dụng cùng một số nguyên lý như OOP, tuy nhiên triết lý SOA có khác biệt đáng kể so với OOP. SOA có thể thực hiện với cả chương trình theo hướng đối tượng (OO) và chương trình không hướng đối tượng.

Hình ảnh
Hình 1: Kiến trúc 3 cấp tiêu biểu của mô hình đối tượng

Hình 1 là kiến trúc 3 cấp (three-ties) tiêu biểu của mô hình đối tượng. Chúng ta có thể thấy sự ràng buộc giữa lớp thể hiện và các đối tượng của lớp nghiệp vụ. Chương trình client phải tương tác với mô hình đối tượng của lớp nghiệp vụ, điều này làm tăng sự ràng buộc và yêu cầu số lượng đáng kể các "gọi hàm" giữa các 2 lớp. Khi các đối tượng nghiệp vụ nằm ở máy tính xa thì đây sẽ là vấn đề. Tương tự, số lượng đối tượng nghiệp vụ mà lớp thể hiện phải thao tác làm giảm sự độc lập giữa các lớp và làm cho khó sử dụng lớp nghiệp vụ.

Ví dụ, xét đoạn mã sau:

Mã:
Customers customers = Customer.List();
Orders orders = customers[0].Orders;
Order order = orders.Add('ORDER001', customerData.Customers[0]);
Order.Lines.Add(new Product('53XYPR0D8', 2);
Orders.Save(); // Nếu việc cập nhật không được thực hiện theo thời gian thực.

Chương trình làm việc với các đối tượng nghiệp vụ Customer, Order Product. Ở đây sử dụng đối tượng Order để thực hiện việc cập nhật. Trong một số mô hình, việc cập nhật được thực hiện trực tiếp ngay trong từng lời gọi đến đối tượng nghiệp vụ. Những lời gọi đến máy chủ được tô đậm.

Hình ảnh
Hình 2: Mô hình SOA phát triển lên từ mô hình đối tượng

Hình 2 là mô hình SOA. Khác biệt giữa SOA và mô hình đối tượng chính là lớp mới 'Services'. Lớp thể hiện giờ đây không còn thao tác trực tiếp lên các đối tượng nghiệp vụ nữa, mà sử dụng dịch vụ để truy cập chúng. Các đối tượng nghiệp vụ được đặt trong thư viện và được dịch vụ nạp vào bộ nhớ - lớp dịch vụ và lớp nghiệp vụ nằm trong cùng tiến trình, nhờ vậy lời gọi hàm đến đối tượng nghiệp vụ sẽ không hề bị quá tải.

Dịch vụ đóng vai trò như 'hộp đen': cung cấp một lớp trung gian cho mô hình đối tượng và đưa ra tập chức năng rút gọn, làm giảm nhu cầu trao đổi giữa các lớp.

Đoạn mã ví dụ trên được thực hiện theo kiến trúc SOA như sau:

Mã:
CustomerData customerData = CustomerService.ListCustomers();
OrderData orderData = new OrderData();
OrderEntity order = orderData.Orderss.Add('ORDER001',customerData.Customers[0].CustomerID);
Order.Lines.Add('53XYPR0D8', 2);
CustomerService.AddOrders(orderData);

CustomerService làm việc với các đối tượng dữ liệu CustomersData và OrderData. Trình client chuẩn bị các đối tượng dữ liệu và gửi chúng đi trong 1 lời gọi. Giờ đây nó tùy thuộc vào dịch vụ thực hiện cập nhật. Phương thức này thực hiện nhóm dữ liệu lại với nhau và làm giảm số lượng lời gọi đến server.

SOA và WebService (dịch vụ Web): Không phải là một

Đặc điểm chính của SOA là tách rời phần giao tiếp/gọi dịch vụ với phần thực hiện dịch vụ. Điều này có thể làm bạn liên tưởng đến một công nghệ được đề cập nhiều gần đây: WebService (dịch vụ web). Dịch vụ web cho phép truy cập thông qua định nghĩa giao thức-và-giao tiếp. SOA và dịch vụ web thoạt trông có vẻ giống nhau nhưng chúng không phải là một.

Về cơ bản, SOA là kiến trúc phần mềm phát xuất từ định nghĩa giao tiếp và xây dựng toàn bộ mô hình ứng dụng như là mô hình các giao tiếp, hiện thực giao tiếp và phương thức gọi giao tiếp. Giao tiếp là trung tâm của toàn bộ triết lý kiến trúc này; thực ra, tên gọi "kiến trúc định hướng giao tiếp" thích hợp hơn cho SOA. Dịch vụ và module phần mềm nghiệp vụ được truy cập thông qua giao tiếp, thường theo cách thức yêu cầu - đáp trả. Ngay cả với yêu cầu dịch vụ 1 chiều thì nó vẫn là yêu cầu trực tiếp có chủ đích từ một phần mềm này đến một phần mềm khác. Một tương tác định hướng dịch vụ luôn bao hàm một cặp đối tác: nguồn cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng dịch vụ.

Định nghĩa cơ bản của dịch vụ web dựa trên một nền tảng khác: Tập hợp các công nghệ WSDL (Web Services Description Language), SOAP (Simple Object Access Protocol) và UDDI (Universal Description, Discovery ang Integration), cho phép xây dựng các giải pháp lập trình cho vấn đề tích hợp ứng dụng và truyền thông điệp. Theo thời gian, các công nghệ này có thể hoàn thiện hay có thể được thay bằng công nghệ khác tốt hơn, hiệu quả hơn hay ổn định hơn. (Hiện tại thì các công nghệ này làm việc tốt và hiệu quả).

Rõ ràng, theo định nghĩa thì dịch vụ web là đặc tả công nghệ còn SOA là triết lý thiết kế phần mềm. Dịch vụ web đưa ra giải pháp kỹ thuật để thực hiện SOA, nhưng SOA cũng có thể thực hiện với các giải pháp kỹ thuật khác không phải dịch vụ web (và không phải tất cả dịch vụ web đều có kiến trúc SOA). Tuy vậy, SOA và dịch vụ web có mối quan hệ tương hỗ: sự phổ biến của dịch vụ web giúp thúc đẩy sự phát triển của SOA, và kiến trúc tốt của SOA sẽ giúp dịch vụ web thành công.

Tương lai cho SOA

Tháng 5 vừa qua (2006), BEA đưa ra sáng kiến Liquid Computing hỗ trợ dịch vụ web và SOA. Cũng trong tháng 5, IBM đã khai trương 4 trung tâm nghiên cứu và triển khai SOA tại Austin (Mỹ), Beijing (Trung Quốc), Delhi (Ấn độ) và Hursley (Anh). Các trung tâm này sẽ hỗ trợ cho công việc của IBM Global Services SOA Centers of Excellence. Như đã đề cập ở phần trên, phiên bản HĐH Windows thế hệ kế tiếp, tên mã Longhorn, sẽ hỗ trợ đầy đủ SOA với công nghệ tích hợp Indigo. Và SOA còn được sự ủng hộ của nhiều hãng tên tuổi khác như Sun, Oracle ... Theo Gartner, trong khoảng 2 năm nữa, SOA sẽ hiện diện trong hầu hết các dự án phần mềm.

SOA sẽ giúp cho công việc phát triển phần mềm trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn. 'Đừng tốn công chế tạo lại bánh xe', hãy kết hợp những linh kiện (dịch vụ) có sẵn và bổ sung những gì cần thiết để 'lắp ráp' nhanh chóng 'chiếc xe' đưa bạn đến đích. Đó là triết lý của SOA! Ngay từ bây giờ bạn có thể áp dụng triết lý này cho các hệ thống phần mềm của mình để sẵn sàng cho những nhu cầu của ngày mai.

THAM KHẢO:
Realizing a SOA with .NET (15 seconds)
The Case for Developing a SOA (IBM)
Getting a little Closer to SOA (DotNetGuru)
SOA Ushers in the Next Era in Business Software Engineering (Gartner Research)

(Theo PCWorld-VN)

Hiện thực hóa kiến trúc SOA với .NET

(Realizing a Service-Oriented Architecture with .NET)
Web Services have emerged as a key strategic capability for integrating business processes, data, and organizational knowledge.

This article is meant to be a practical discussion guide to building a .NET application in a service-oriented architecture. We will consider real-world goals, real-world obstacles, and experience-based solutions. I quickly concede the approaches discussed here are not exhaustive or infallible. This paper is focused on application development, not application integration. We will specifically consider architectural issues and component design issues.

The Potential of Web Services

So why all the hype? Web Services obviously have great potential. It's a way to integrate at many different levels. Consider this example. A single consumer application (perhaps interacting with your company over the Internet) wants to engage the company in some business process. To facilitate that business process, the company internally invokes processing that spans two discreet systems (A and B). However, through a service-oriented architecture, the entire end-to-end business process is exposed to the consumer application as a single service.

Hình ảnh
Figure 1. Exposing separate LOB applications as a single service.

Architectural Considerations

A good architecture emphasizes a separation of responsibilities. For example, the presentation tier manages presentation components; the business logic tier manages business logic components; and the data access tier manages data access components.

This separation provides for fault tolerance, easier maintenance, and future-proofing. A good service-oriented architecture is nothing new, just a smart way of separating (and exposing) a component's responsibilities. It builds on classic object-oriented (OO) ideas.

In a service-oriented architecture, clients consume services, rather than invoking discreet method calls directly. In a 3-tier model (Figure 2), objects are marshaled across process boundaries through the proxy/stub techniques we know from COM. This provides benefits such as location transparency. The same techniques are used in .NET Remoting via channels and sinks. The basic philosophy is that one tier should only communicate with the tier contiguous to it.

One disadvantage to object-orientation at an architectural level is the number of communication links. Client code is responsible for traversing complex object models and understanding details about domain-specific logic. In a service-oriented model, we introduce a further "layer of indirection". This alleviates some of the pain associated with traversing complex object models. The services layer, denoted below in Figure 3 by the cloud, provides black-box functionality.

Hình ảnh
Figure 2. A typical 3-tier application architecture

Hình ảnh
Figure 3. A service-oriented application architecture

Designing Services and Objects

In a service-oriented design, services should be course-grained. Course-grained services are modeled after and align to business processes.

Objects should be fine-grained and align to real business entities. These discreet objects provide the detailed business logic. Specificity is good when building discreet business objects. This is also a very successful way to codify organizational knowledge. Each business object is responsible for its own behavior and business rule implementation, such as updating a database table, sending an email, or placing a message on a queue.

Services provide the orchestration of the detailed business objects to expose a full service to the consumer. Services are responsible for orchestrating calls to discreet business objects, managing the responses, and acting accordingly. Service methods may invoke and manage several business objects.

Service methods align to business processes by design. Class methods align to detailed object-level operations by design.

Consider the following example in Figure 4. Notice we have a Web service called BookStoreService and a Web method called orderBook(). This single Web method instantiates and manages 3 separate objects, Book, Order, and OrderDetail.

Hình ảnh
Figure 4. Designing services and objects.

Design Considerations

Minimize Roundtrips

A design goal should be to design services to minimize round-trips. This was true with COM and it continues to be true with .NET and Web Services.

Recall in classic n-tiered distributed architectures that conventional wisdom said it was better to move 1000 bytes across process boundaries 1 time, rather than moving 1 byte across 1000 times. We would optimize method signatures and design stateless components, and we would use database helper routines to convert ADO recordsets to XML to provide a lightweight payload for distributed applications.

With SOAP and Web Services, we generally see the same approach. However, we need to take it one step further. We should now consider using the Web Service as a service, not just a data pump, and XML as a self-describing package, not just a payload.

Align Web Methods to Forms

Web methods should be designed to perform an entire service for an entire form. In short, our design goals are:

Provide a course-grained Web method at the form level
Have the Web method invoke whatever business objects it needs
Return to the consumer the whole service result, like a DataSet with numerous tables within it

Consider the following example. We may be designing a search form to search a bookstore for certain titles. To support this search screen in this figure, we would design a Web method called GetSearchScreenInfo which returns a DataSet that has a number of tables within it. This Web Method is designed to provide all the information the form needs to draw itself on the load event.

Hình ảnh
Figure 5. Align service methods to forms

On this particular form, we need two lists just to populate the screen: a list of valid publishers, and a list of valid categories. Rather than making two calls to the Web Service (one for each dropdown), we design our Web method to provide everything we need in a single call. We service the loading of the search form in a single interaction. Later work, such as performing the search or drilling into details, is handled by separate Web methods.

Behind the scenes, our web method is invoking and managing all the business objects it needs to satisfy the request.

Moving Data Between Tiers

Data can be moved between architectural tiers as DataSets, serialized objects, raw XML, etc. -- but design your solution to be consumed. DataSets are .NET specific objects that serialize nicely but are intended for other .NET applications. If your application needs to interoperate with, for example, a J2EE solution, DataSets may be too troublesome to employ because the J2EE side would not readily understand a DataSet.

Serializing business objects is also an option. But remember that the full object is not marshaled. The object's public properties and data members are serialized and shipped, but the calling client cannot re-inflate the object and access its private data members or methods.

XML is, of course, an obvious choice also. XML formatted exchanges are a solid and proven technique for moving data around any distributed architecture.

Distributed Transactions

Web methods can act as the root of a distributed transaction. These transactions are managed by the Distributed Transaction Coordinator (DTC). Our Web Service classes must reference the System.EnterpriseServices namespace, and can then use the ContextUtil class to use the SetAbort() and SetComplete() methods. This provides for declarative transaction control.

Each object enlisted by the Web method is a child object and will participate in the transaction and "vote" on the outcome. This provides the best fit for keeping objects granular enough to manage their own data from a persistent store, while still allowing them to be orchestrated by a transaction-root controller.

Transactional context is managed by the root. Web Methods must be adorned with the TransactionOption attribute, something like this:

Mã:
[WebMethod(TransactionOption=TransactionOption.RequiresNew)]


Child objects need nothing special. They do NOT need to derive from the ServicedComponent base class. The same child object can be enlisted in a transaction for one Web method, but not enlisted in a transaction for another Web method.

Exception Handling

Exceptions should be considered a rarity. They should be thrown only in exceptional situations, not in normal branching. Each caller should catch exceptions and deal with them appropriately. In its simplest form, an exception could be bubbled up the call stack from the backend to the UI and presented to the end-user. However, each step up the stack should have processing done at that layer. All exceptions thrown over SOAP get shipped as SOAP exceptions. For example, we might throw an exception if someone tried to log on inappropriately using this simplified code:

Mã:
Throw New BadPasswordException()

The caller would need to catch that exception, like this:

Mã:
Catch x1 As BadPasswordException // do something

In this example, the caller catches the particular exception and reacts to it. However, if the Web Service threw an application exception to the end-user client, the exception is transformed into a SOAP exception. In fact, the client program must specifically catch that SOAP exception, as in Figure 6.

Mã:
catch e as System.Web.Services.Protocols.SoapException


Hình ảnh
Figure 6. Throwing exceptions over a SOAP connection.

The client program must catch at least 3 different types of exceptions. The first is SoapException.

On the client, SoapExceptions should be caught for any middle-tier exceptions. This is useful for throwing exceptions from the middle tier application logic. However, ANY middle tier exceptions will be thrown as a SoapException.

We can encode the inner exception to be business-problem specific information we need. As an example, we can pass a SoapException with a meaningful message, such as "Database access error", so that the client can deal with it.

Next the client should catch WebExceptions. This is useful when the network goes down in the middle of an end-user's session.

Finally, the client must catch client-side exceptions. These are thrown by client-side processing, and are something local to client, like FileNotFound.

Conculsion

The key messages to take away from this discussion about constructing .NET applications in a service-oriented architecture are as follows:

Service-oriented architecture is rooted in object-orientation but adds a layer of abstraction. I like to think that service-orientation is not a departure from object-orientation, but rather an evolution. Services orchestrate calls to discreet business objects to satisfy requests. Objects are enlisted, behind the scenes, to formulate a response.

The openness of the technologies is exciting and easy to use. The current industry work on standards around UDDI, WSDL, Web Services, etc. promises that more and more applications can be constructed from constituent services rather than re-invented domain-specific code.

The statelessness of the technologies can be a challenge for performance heavy applications. Be aware of the non-functional requirements of the solution you want to build. Sometime line-of-business applications desire long-running transactions that are better suited to other distributed application technologies.

Design your solution for Web Services - you will have different approaches than you would for Remoting or DCOM. Again, remember that service-orientation is appropriate for some business applications, but not all. A service-oriented architecture is one possible architecture pattern to consider when designing solutions.
(Chip Irek)