Wednesday, April 8, 2009

Amazing Living Without Arms

Hôm qua đi học AV chúng tôi được giới thiệu CLIP này, quả là thú vị thật. Xem mới thấy trong gian khó nghị lực của con người quả là phi thường.

Monday, April 6, 2009

Phục hồi dữ liệu với Get Data Back

5 bước khôi phục các dữ liệu lỡ tay delete hay do những người ngoại đạo vọc nhầm

Phiên bản dùng thử cho FAT và NTFS ( dung lượng 2.11MB và 2.08MB ) tại
www.runtime.org. Chương trình có thể phục hồi dữ liệu đã xoá từ HDD, ổ mềm, ZIP, ổ đĩa mạng.

Bước 1: Quét các ổ đĩa hiện có.

Bước 2: Chọn phân vùng định dạng tương ứng ( FAT hay NTFS tuỳ phiên bản ) để chương trình truy xuất file phục hồi.

Bước 3: Tuỳ chọn chế độ quét file theo từng size hay luôn cả HDD. Nếu chọn Search Entire Drive để chương trình quét toàn bộ HDD hiện có để tìm phân vùng định dạng tương ứng, chọn Search Patial Drive để thực hiện chế độ quét từng sector trên phân vùng đã chọn từ bước 2.

Bước 4: Sau khi chương trình quét xong, đây là bước kết quả. Bạn tuỳ chọn vào từng phân vùng đã chọn (nếu trên HDD có nhiều hơn một phân vùng định dạng giống nhau) để chương trình hiễn thị hệ thống file đã xoá.

Bước 5: Các file đã xoá sẽ hiển thị trên cây thư mục. Giờ thì bạn chỉ việc copy file bày và lưu lại vào HDD để hoàn tất.


Lưu ý:

Phiên bản dùng thử không cho phép copy những file đã xoá về lại HDD. Để chương trình hoạt động hiệu quả, nên đánh dấu chọn tất cả trong mục Options như Recover Deletes Files, Allow Duplicate File Names, Recover Losts Files .

Ngoài ra cũng có thể xem các định dạng file trong mục Legend. Có thể chọn search để tìm kiếm file đã mất. Điều này giúp cho việc tìm ra file cần phục hồi nhanh chóng hơn. Hơn nửa chương trình còn giúp tạo file ảnh cho HDD để sao lưu dữ liệu bằng công cụ Tools > Create Image File.



Các hệ cơ sở tri thức ứng dụng

"Các hệ cơ sở tri thức ứng dụng" : topic có vẽ rất là thú vị cho những nghiên cứu của tôi, không biết tiến trình sẽ thế nào ?

>> Lecture - 34 Data Mining and Knowledge Discovery




>> Lecture - 35 Data Mining and Knowledge Discovery Part II




>> Và ứng dụng trong Semantic Web


Sunday, April 5, 2009

My House in Future

Ngồi tọc mạnh, cũng viễn vong một chút tham khảo và mơ mộng cho cái ngôi nhà của mình trong tương lai. Hì hì, 3 lầu với 3-4 phòng ngủ xây cũng hơi bị phê đây.


Không biết đến bao giờ ngôi nhà này mới thành hiện thực nhỉ.

Saturday, April 4, 2009

Quy trình xây dựng Ontology

1. Ontology learning

Ontology Learning có thể được mô tả như là việc thu thập của 1 mô hình miền từ dữ liệu (miền ở đây có thể như là: Geographical,...). Ontology learning cần dữ liệu đầu vào để học những khái niệm liên quan đến miền đã biết trước, những định nghĩa của khái niệm cũng như các mối quan hệ tổ chức giữa những định nghĩa này. Dữ liệu đầu vào có thể là lược đồ như là XML-DTD, những mô hình UML, hoặc lược đồ cơ sở dữ liệu. Ontology learning có được thực hiện trên cơ sở của các nguồn được cấu trúc như XML hoặc tài liệu HTML … Trong trường hợp ontology learning được thực hiện trên cơ sở của các nguồn văn bản không được cấu trúc, chúng ta sẽ nói về ontology learning from text.

Ontology learning from text

Ontology learning có thể xem là 1 quá trình của công nghệ đảo mã (reverse engineering). Tác giả của 1 văn bản hoặc 1 tài liệu về 1 mô hình miền trong ý thức và bắt đầu tác giả chia sẻ ý tưởng với những tác giả khác để viết những tài liệu về cùng 1 miền. Tác vụ xây dựng lại mô hình thế giới của tác giả hoặc thậm chí mô hình mà được chia sẻ bởi các tác giả khác nhau, có thể được xem như là 1 loại của công nghệ đảo mã (reverse engineering).

Tác vụ này rất phức tạp và thử thách bởi vì 2 lý do:

  • Đây chỉ là 1 phần nhỏ tri thức về miền của những tác giả và quy trình của công nghệ đảo mã có thể xây dựng lại mô hình của tác giả.

  • Tri thức thế giới, chúng ta đang xem xét 1 quyển sách hoặc cuốn từ điển – nó ít khi đề cập rõ ràng. Chỉ 1 phần liên quan của tri thức mà trong văn bản hoặc 1 bài cáo được đề cập nhiều hoặc ít rõ ràng.

    Tri thức thế giới được chứa đựng trong những văn bản theo cái cách mà những từ và những cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng bởi tác giả. Điều đó gây khó khăn vì mỗi tác giả sử dụng những từ, cấu trúc ngôn ngữ của họ, và không theo 1 quy ước nào, gây khó khăn trong việc lấy dữ liệu cho việc ontology learning.

2. Phát triển ontology

Việc phát triển ontology chủ yếu liên quanđến việc tiên đề hóa (axiomatize) định nghĩa của những khái niệm (concepts) cùngvới mối quan hệ (relations) giữa chúng. Đối với 1 vài ứng dụng của ontologies,điều quan trọng là kết nối những khái niệm và quan hệ đến những kí hiệu (symbols) mà được sử dụng để tham chiếu đến chúng. Điều này nghĩa là việc thu thập tri thức ngôn ngữ học về những thuật ngữ mà được sử dụng để tham chiếu đến 1 khái niệm cụ thể và những từ đồng nghĩa có thể có của những thuật ngữ này. Sau đó, 1 ontology bao gồm cây phân cấp khái niệm, các quan hệ không phân cấp. Để ràng buộc việc giải thích của những khái niệm và quan hệ, biểu đồ tiên đề (axiom schemata) như là sự phân biệt đối với các khái niệm như symmetry, reflexivity, transitivity,... Cuối cùng, cũng là 1 trong những quan tâm đến việc sử dụng 1 ontology để lấy được dữ kiện mà không được mô hình hóa rõ ràng trong cơ sở tri thức nhưng có thể được thu từ nó.

Phân lớp đưa ra những tác vụ phụ khác nhau của việc ontology learning:
  • việc thu thập những thuật ngữ liên quan, ngôn ngữ

  • sự nhận dạng những thuật ngữ đồng nghĩa, những biến thể
  • hệ thống khái niệm (concepts),

  • việc tổ chức phân cấp các khái niệm (concepts),

  • và phạm vi thích hợp learning những quan hệ (relations), thuộc tính với miền

  • việc tổ chức phân cấp những mối quan hệ (relations),

  • instantiation of axiom schemata

  • khái niệm những tiên đề tùy ý (arbitrary axioms)

Trong hầu hết các trường hợp, những lớp xây dựng dựa trên những lớp ở phía dưới đã xây dựng rồi. Những quy trình ở những lớp cao hơn phụ thuộc vào output của những quy trình tương ứng ở các lớp thấp hơn.

Tuy nhiên, những tác vụ ở những lớp khác nhau có thể được nhóm lại với nhau và sử dụng cùng 1 thuật toán.

Ontology learning layer cake


Ở bước thu thập thuật ngữ, chúng ta sẽ tìm những thuật ngữ liên quan như sông, quốc gia, nước, thành phố, thủ đô. Tại bước tìm từ đồng nghĩa, chúng ta nhóm quốc gia và nước như là khái niệm tương đương. Tiếp theo, chúng ta learning phân cấp khái niệm giữa những khái niệm. Đối với miền địa lý, có thủ_đô ≤C thành_phố, thành_phố ≤C thực_thể_có_người_ở (Inhabited_GE).


Thêm vào nữa, chúng ta learning các mối quan hệ với nhau như là mối quan hệ thủ_đô_của giữa thành_phố và quốc_gia. Tại cấp độ biểu đồ tiên đề (axiom schemata), chúng ta thu được sông và núi là những khái niệm phân biệt. Cuối cùng, chúng ta lấy những quan hệ phức tạp hơn giữa các khái niệm và quan hệ trong hình thái tiên đề. Ví dụ: quy định nói rằng quốc_gia có 1

thủ_đô duy nhất.

3. Những tác vụ của ontology learning

3.1 Xác định thuật ngữ (Terms):

Những thuật ngữ là sự nhận dạng ngôn ngữ học của những khái niệm về lĩnh vực cụ thể. Tác vụ ở đây chính là tìm ra tập hợp những thuật ngữ hoặc dấu hiệu cho các khái niệm và quan hệ, mà chính là đặc điểm của lĩnh vực cụ thể, và sẽ cung cấp cơ sở để định nghĩa 1 bộ từ vựng (lexicon) cho ontology.

Những thuật ngữ có thể là từ đơn hoặc từ ghép mà có ý nghĩa với lĩnh vực đã cho. Đầu vào cho tác vụ này là 1 tập hợp những tài liệu liên quan đến lĩnh vực (domain) quan tâm, và đầu ra là tập hợp chuỗi SC và SR : chứa đựng những thuật ngữ mà được dùng như là dấu hiệu cho khái niệm và quan hệ.

Trong đó SC là dấu hiệu cho khái niệm, SR là dấu hiệu cho quan hệ, nằm trong khái niệm Lexicon.

3.2 Xác định từ đồng nghĩa (Synonyms):

Tác vụ khám phá từ đồng nghĩa bao gồm việc tìm những từ mà có khái niệm tương tự. Chúng ta chú ý rằng 2 từ được xem là đồng nghĩa nếu chúng có nghĩa chung mà có thể được dùng như là cơ sở để hình thành 1 khái niệm liên quan đến lĩnh vực.

Chú ý rằng có 1 sự chồng chéo giữa khái niệm đồng nghĩa và mối quan hệ từ vựng cohyponymy. Cohyponymy được định nghĩa là mối quan hệ giữa hyponyms và hypernym.

Ví dụ : spoon is a hyponym of cutlery

musical instrument is a hypernym of piano

3.3 Những khái niệm (Concepts):

Sự hình thành khái niệm cung cấp:

  • định nghĩa của những khái niệm

  • sự mở rộng của những khái niệm

  • những dấu hiệu từ vựng được dùng để tham chiếu đến chúng.

Chúng ta định nghĩa 1 khái niệm gồm 3 phần < i(c), [|c|],RefC(c) >i(c) is the intension of the concept [|c|] : sự mở rộng của khái niệm RefC(c) : mô tả sự nhận dạng từ vựng trong bộ ngữ liệu (corpus)

3.4 Xác định phân cấp khái niệm (Concep Hierarchies)

Có những tác vụ liên quan :

Việc đưa vào cấu trúc phân cấp khái niệm (Concept Hierarchy Induction) :

Ví dụ : bắt đầu
từ tập khái niệm C:= { Thực thể định danh, Thực thể định danh tự nhiên, Thực thể định danh có người ở, Núi, Sông, Quốc gia, Thành phố }, công việc phải làm là sẽ đưa ra ≤C (phân cấp khái niệm hoặc phân loại tư duy (taxonomy))


Núi < thực thể định danh tự nhiên, sông < thực thể định danh tự nhiên, thực thể định danh tự nhiên < thực thể định danh, quốc gia < thực thể định có người ở, thành phố <
thực thể định có người ở, thủ đô < thành phố, thực thể định danh có người ở < thực thể định danh.

≤C = {(núi,thực thể định danh), (sông, thực thể định danh), (quốc gia, thực thể định danh), (thành phố, thực thể định danh), (thủ đô, thực thể định danh có người ở}, {thủ đô, thực thể định danh)}

Sự tinh lọc (Refinement) :

Chúng ta định nghĩa việc tinh lọc sự phân cấp khái niệm là 1 tác vụ, mở rộng hệ thống phân cấp khái niệm đã có, bằng việc thêm vào các khái niệm đã tồn tại, tinh lọc lại hệ thống phân cấp.

Ví dụ : thêm vào bộ : (thung lũng, thực thể định danh tự nhiên)

Mở rộng bộ từ vựng (Lexical Extension) :

Chúng ta định nghĩa việc mở rộng bộ từ vựng hoặc việc tinh lọc bộ từ vựng của hệ thống phân cấp khái niệm như là tác vụ, tìm 1 bộ nhận dạng từ vựng mới Si của khái niệm c, mở rộng RefC(c), RefC’{c) := RefC{c) Ui{si}

Ví dụ : thêm vào thuật ngữ “suối” vào RefC(sông).

3.5 Xác định các mối quan hệ (Relations) :
  • Dựa vào các khái niệm trong C (concept identifiers), tìm quan hệ có thể được giữa các khái niệm,

  • Đưa ra R (relation identifiers) : tìm những nhãn và nhận dạng quan hệ trên cơ sở ngữ liệu (corpus) có sẵn, các quan hệ có thể có của khái niệm trong C,

  • Lấy 1 quan hệ cụ thể r Є R, theo sự phân cấp khái niệm, chúng ta xác định miền (domain) và phạm vi (range) phù hợp của quan hệ,

  • Learning phân cấp quan hệ trong R, ký hiệu ≤R
Ví dụ : C = { Thực thể định danh, Thực thể định danh tự nhiên, Thực thể định danh có người ở, Núi, Sông, Quốc gia, Thành phố}, R = {thủ_đô_của, nằm_tại}, σR(thủ_đô_của) = (thành phố, quốc gia), (domain : thành phố, range : quốc gia), sự phân cấp quan hệ : thủ_đô_của ≤R nằm_tại . Vì nếu x là thủ đô của y, thì x cũng nằm tại y.

3.6 Xác định lược đồ (Axiom Schemata Instantiations):

Đề cập đến định nghĩa tiên đề của khái niệm và quan hệ. Đối với khái niệm, chúng ta có disjointness hoặc equivalence, trong khi đối với quan hệ, chúng ta có tiên đề mô tả thuộc tính của quan hệ như là transitivity, symmetry, ...

3.7 Xác định tiên đề tổng quát (General Axioms):

Kiểu tiên đề này phụ thuộc nhiều vào hình thức luận lý được dùng trong nền tảng của lĩnh vực cụ thể. Những tiên đề tổng quát là sự kéo theo luận lý nhằm ràng buộc sự diễn dịch của khái niệm và quan hệ. Tác vụ learning axiom có thể được hiểu bao gồm việc đưa ra những mối quan hệ và kết nối phức tạp hơn giữa khái niệm và quan hệ. Tiên đề tổng quát không thể được thu thập 1 cách tự động, chúng ta sẽ không đưa ra cụ thể 1 quy luật nào vì nó phụ thuộc vào hình thức trình bày tri thức được dùng.

Ví dụ : tiên đề : với mọi quốc gia x -> y là thủ đô của x, với mọi z là thủ đô của x -> y = x : mỗi quốc gia chỉ có 1 thủ đô

Thursday, April 2, 2009

Các thuật ngữ trong hệ thống TIMEZONES

Trên Trái Đất, thời gian biến đổi dần dần từ Đông sang Tây. Tại một thời điểm xác định, có vùng đang là buổi sáng, có vùng khác lại đang là buổi tối. Một múi giờ là một vùng trên Trái Đất mà người ta quy ước sử dụng cùng một thời gian tiêu chuẩn, thông thường được nói đến như là giờ địa phương. Về lý thuyết, các đồng hồ tại vùng này luôn chỉ cùng một thời gian.

Có thể dùng 24 đường kinh tuyến chia bề mặt Trái Đất ra làm 24 phần bằng nhau, giúp cho chênh lệch giờ giữa các múi giờ là 1 giờ, một con số thuận tiện. Tuy nhiên, việc phân chia trên chỉ là cơ sở chung; các múi giờ cụ thể được xây dựng dựa trên các thỏa ước địa phương, có yếu tố quan trọng của việc thống nhất lãnh thổ quốc gia. Do vậy trên bản đồ thế giới, có thể thấy rất nhiều ngoại lệ, và chênh lệch giờ giữa một số múi giờ có thể không bằng 1 giờ.

Các trang web thông tin về TIMEZONES:
www.worldtimezone.com
www.timeanddate.com

TIMEZONES - - - - - - - - - - - - - - - - - GMT Offsets
Offsets Eastward from GMT (+)
Offsets Westward from GMT (-)

AST - Atlantic Standard Time -4:00
AT #NAME? -2:00
AHD - Alaska-Hawaii Daylight :::
AHS - Alaska-Hawaii Standard -10:00
BLT - Baghdad Local Time +3:00
BST - British Summer Time :::
CAT - Central Alaska Time -10:00
CCT - China Coast Time +8:00
CDT - Central Daylight Time :::
CET - Central European Time +1:00
CLT - Cairo Local Time +2:00
CST - Central Standard Time -6:00
EAD - East Australian Daylight :::
EAS - East Australian Standard +10:00
EDT - Eastern Daylight Time :::
EET - Eastern European Time +1:00
EMT - Eastern Mediterranean +2:00
EST - Eastern Standard Time -5:00
GMT - Greenwich Mean Time +0:00
HST - Hawaii Standard Time -10:00
JST - Japanese Standard Time +9:00
MDT - Mountain Daylight Time :::
MET - Middle European Time +1:00
MST - Mountain Standard Time -7:00
MTS - Moscow Time Standard +3:00
MTD - Moscow Time Daylight :::
NT #NAME? -11:00
NZT - New Zealand Time +12:00
PDT - Pacific Daylight Time :::
PST - Pacific Standard Time -8:00
PST - Pakistan Standard Time +5:00
WAS - West Australian Standard +7:00
WAT - West African Time -1:00
WED - Western Europe Daylight :::
WES - Western Europe Standard +0:00
YDT - Yukon Daylight Time :::
YST - Yukon Standard Time -9:00
IDLE - International Date Line East +12:00
IDLW - International Date Line West -12:00

Wednesday, April 1, 2009

Những kỹ thuật trong Ajax

AJAX (Asynchronous JavaScript and XML - nghĩa là "JavaScript và XML không đồng bộ") là một nhóm các công nghệ phát triển web được sử dụng để tạo các ứng dụng web động hay các ứng dụng giàu tính Internet (rich Internet application). Từ Ajax được ông Jesse James Garrett đưa ra và dùng lần đầu tiên vào tháng 2 nãm 2005 để chỉ kỹ thuật này, mặc dù các hỗ trợ cho Ajax đã có trên các chương trình duyệt từ 10 nãm trước. Ajax là một kỹ thuật phát triển web có tính tương tác cao bằng cách kết hợp các ngôn ngữ:

  • HTML (hoặc XHTML) với CSS trong việc hiển thị thông tin
  • Mô hình DOM (Document Object Model), được thực hiện thông qua JavaScript, nhằm hiển thị thông tin động và tương tác với những thông tin được hiển thị
  • Đối tượng XMLHttpRequest để trao đổi dữ liệu một cách không đồng bộ với máy chủ web. (Mặc dù, việc trao đổi này có thể được thực hiện với nhiều định dạng như HTML, văn bản thường, JSON và thậm chí EBML, nhưng XML là ngôn ngữ thường được sử dụng).
  • XML thường là định dạng cho dữ liệu truyền, mặc dầu bất cứ định dạng nào cũng có thể dùng, bao gồm HTML định dạng trước, văn bản thuần (plain text), JSON và ngay cả EBML.
Giống như DHTML, LAMP hay SPA, Ajax tự nó không phải là một công nghệ mà là một thuật ngữ mô tả việc sử dụng kết hợp một nhóm nhiều công nghệ với nhau.

- thread thảo luận về ajax
http://www.javavietnam.org/javavn/mvnforum/viewthread_thread,9591_offset,80
- tự điển online
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/
- nói về đặc tính autocomplete của ComboBox
http://www.dhtmlx.com/docs/products/dhtmlxCombo/index.shtml
- chỉ cách làm trên ASP.net
http://easylistbox.com/demoSuperSearch.aspx

Saturday, March 28, 2009

Giờ Trái Đất Năm 2009

Để hướng ứng cho chương trình “Giờ Trái Đất Năm 2009”. Chúng ta hãy cùng tắt những bóng đèn điện thường ngày, thay vào đó là ánh đèn từ nến. Tắt máy móc sử dụng điện nếu không cần thiết.....

giotra dat.jpg

Thực hiện hiện hoạt động này ngay tại nơi mình sinh sống, nơi làm việc và học tập để “Cùng chung tay xây dựng một hành tinh xanh”.

Thursday, March 26, 2009

Chương 1 : Cha Giàu, Cha Nghèo

Tôi có hai người cha, một người giàu và một người nghèo - một người cha ruột và một người cha nuôi (cha của Mike - bạn tôi). Cha ruột tôi đã có bằng thạc sĩ, còn người cha nuôi thì chưa học hết lớp tám, nhưng cả hai người đều thành công trong sự nghiệp và có ảnh hưởng đến người khác. Cả hai đều khuyên bảo tôi rất nhiều điều, nhưng những lời khuyên đó không giống nhau. Cả hai đều tin tưởng mãnh liệt vào sự học nhưng lại khuyên tôi học những khóa học khác nhau.

Nếu tôi chỉ có một người cha, tôi sẽ hoặc chấp nhận hoặc phản đối ý kiến của ông. Có hai người cha dạy bảo, tôi thấy được những quan điểm trái ngược nhau giữa một người giàu và một người nghèo. Và thay vì chỉ đơn giản chấp nhận hay phản đối người này hay người kia, tôi đã cố suy nghĩ nhiều hơn, so sánh và lựa chọn cho chính mình.

Cả hai người cha của tôi khi bắt đầu tạo dựng sự nghiệp đều phải đấu tranh với chuyện tiền nong, nhưng cả hai có những quan điểm khác nhau về vấn đề tiền bạc.

Cha ruột tôi thường nói: "Ham mê tiền bạc là nguồn gốc của mọi điều xấu."

Còn cha nuôi của tôi lại bảo rằng: "Thiếu thốn tiền bạc là nguồn gốc của mọi điều xấu."

Những sự khác nhau trong quan điểm của họ, nhất là khi đề cập đến tiền bạc, khiến tôi trở nên tò mò và bắt đầu suy nghĩ…

Vì có hai người cha đầy ảnh hưởng, tôi đã học từ cả hai người. Tôi suy nghĩ về lời khuyên của mỗi người, và nhờ vậy, tôi có được một hiểu biết sâu sắc về quyền lực và tác động của suy nghĩ lên cuộc sống con người như thế nào.

Ví dụ, cha ruột tôi thường nói: “Tôi không mua nổi vật đó.” Còn cha nuôi thì cấm tôi nói như vậy ông muốn tôi nói: "Làm thế nào để mua được vật đó?" Một bên là câu khẳng định, còn bên kia là câu hỏi. Một bên khiến bạn rũ bỏ trách nhiệm, còn bên kia buộc bạn phải suy nghĩ…

Hai người cha của tôi có những quan điểm cực kỳ khác biệt. Chẳng hạn, một người bảo: "Phải học cho giỏi thì mới được làm việc ở những công ty tốt.” Người kia bảo: "Học cho giỏi thì mới mua được những công ty tốt."

Một người tin rằng: “Ngôi nhà là số đầu tư nhiều nhất và là tài sản lớn nhất của chúng ta.” Người kia lại nghĩ khác: "Ngôi nhà cũng là một khoản tiền phải trả, và nếu ngôi nhà là khoản đầu tư lớn nhất của con thì con gặp rắc rối rồi đây."

Cả hai người cha đều trả tiền hóa đơn đúng thời hạn, nhưng một người luôn trả đầu tiên còn người kia luôn trả sau cùng.

Một người vật lộn để tiết kiệm từng đồng một.

Người kia chỉ làm một việc đơn giản là đầu tư.

Một người dạy tôi cách viết một lá đơn xin việc thế nào cho ấn tượng để có thể tìm được việc làm tốt. Người kia dạy tôi cách viết một dự án kinh doanh tài chính như thế nào để có thể tạo ra công việc.

Được huấn luyện bởi hai người cha, tôi có thể quan sát tác động của những suy nghĩ khác nhau lên cuộc sống con người. Tôi thấy người ta thật sự định hình cuộc sống của họ qua suy nghĩ của chính họ.

Ví dụ, người cha nghèo của tôi luôn phàn nàn: "Tôi sẽ không bao giờ giàu lên nổi.” Và lời tiên đoán đó đã trở thành sự thật. Ngược lại, người cha giàu của tôi luôn nói những câu đại loại như: “Tôi là một người giàu, mà người giàu thì không làm những việc đó." Ngay cả khi ông gặp thất bại thảm hại sau một cuộc đầu tư lớn không thành, ông vẫn nghĩ mình là một người giàu. ông nói: "Có khác biệt giữa nghèo nàn và phá sản. Phá sản chỉ là tạm thời nhưng nghèo thì vinh tiễn."

Những quyền lực của suy nghĩ không bao giờ có thể đo hay đánh giá được, nhưng đó là một điều hiển nhiên mà tôi nhận thức được ngay từ khi còn nhỏ. Tôi thấy rằng người cha nghèo không phải nghèo vì số tiền ông kiếm được, mà vì những suy nghĩ và hành động của ông.

Dù cả hai người cha của tôi đều rất tôn trọng việc giáo dục và học hỏi nhưng họ lại bất đồng về việc học cái gì là quan trọng. Một người muốn tôi học hành chăm chỉ, có thứ hạng chuyên môn cao dể có công việc tốt, kiếm được nhiều tiền. Người kia khuyến khích tôi học để trở nên giàu có, để hiểu tiền bạc làm việc như thế nào và học cách bắt tiền bạc phải làm việc cho mình. Ông thường nhắc đi nhắc lại: "Tôi không làm việc vì tiền. Tiền bạc phải làm việc vì tôi."

Năm lên 9 tuổi, tôi quyết định nghe theo và học hỏi từ người cha giàu về vấn đề tiền bạc. Vì lúc đó, tôi chỉ mới 9 tuổi nên những bài học cha nuôi tôi dạy rất đơn giản. Thực ra tất cả chỉ có 6 bài học lặp đi lặp lại và quyển sách này nói về 6 bài học đó, cũng theo thứ tự đơn giản như khi cha nuôi tôi dạy tôi. Những bài học này là những lời hướng dẫn giúp bạn và con cái bạn trở nên giàu có hơn, bất kể điều gì sẽ xảy ra trên một thế giới không chắc chắn và đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay.

(Robert Kiyosaki, Sharon Lechter)

Monday, March 23, 2009

Bác Hy "râu" với phương thuốc bí truyền trị ung thư

Một bệnh nhân bị ung thư thực quản, hy vọng sống rất mong manh dù chấp nhận tốn kém để xạ trị, chỉ bằng một bài thuốc dân gian đơn giản đã tự chữa với kết quả khả quan.

Bác Hy cuối năm 2002 còn nguyên râu tóc

Đó là bác Trần Văn Hy - biệt danh Hy Râu - nhà ở số 188 đường Nguyễn Công Trứ TP Buôn Ma Thuột, người mấy năm qua đã liên tục lui tới các bệnh viện để điều trị chứng bệnh đã được các kết quả chẩn đoán y học thống nhất là ung thư thực quản.

Tháng 12/2002 bác Hy bắt đầu ho khan, khó thở , lần lượt đến nhiều bệnh viện (BV) ở Đăk Lăk và TP Hồ Chí Minh để khám chữa. Bác đã được các BV này cho uống thuốc đau dạ dày và thuốc chữa tổn thương phổi do lao nhưng vẫn bị rụng sạch râu tóc lông toàn thân và biến dạng mặt mày.

Sau đó lại có bản xét nghiệm đờm khẳng định bác không lao của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, rồi một BV lại khẳng định bác chẳng bị gì ngoài bệnh rụng tóc. Tháng 1/2004, Thanh tra Bộ y tế chuyển đơn khiếu nại về việc các bác sĩ chỉ định điều trị sai làm sức khỏe bệnh nhân suy sụp của bác Hy về cho Giám đốc BV Đại học Y Dược TP HCM giải quyết.

Sau đó, bác đã được các chuyên gia đầu ngành hội chẩn, đưa lên bàn nội soi và phát hiện bác bị ung thư thực quản. Những diễn biến bi hài này đã được Báo Tiền Phong số 60 ra ngày 24/3/2004 phản ánh qua bài “Vì sao bác Hy Râu rụng râu tóc ?”, chốt lại ở đoạn lãnh đạo bệnh viện ngồi lại cùng bác Hy bàn bạc xem chọn cách nào điều trị cho hiệu quả …

Ở thời điểm đó thể trạng bác Hy đã rất suy kiệt. Các bức ảnh nội soi cho thấy khối u như một con đỉa lớn bám dài và chẹn gần kín thực quản khiến bác không còn ăn uống bình thường, chỉ có thể nuốt từng giọt sữa một cách khó khăn.

Bác Hy tháng 3/2004: Cơ mặt nhẽo sệ, tóc râu rụng hết

Các giáo sư, bác sĩ lãnh đạo BV Y Dược, Chợ Rẫy đều khẳng định với bác Hy : phương pháp tối ưu và duy nhất trong trường hợp này là đặt ống tiếp nhận thực phẩm để nuôi cơ thể, khi sức khỏe ổn định sẽ bắt đầu xạ trị. Bác Hy hỏi dò thì được biết: Điều trị cách này tốn chừng 150 triệu đồng, nhưng “5 sống 5 chết” nhất là ở tuổi cao như bác.

Bác nằm vắt tay suy nghĩ: Nếu chữa khỏi thì 150 triệu đối với gia đình 1 vợ 13 đứa con đều đã phương trưởng thành đạt của bác không là “vấn đề” gì. Nhưng tới tuổi này mà còn phải nuốt bằng ống, chịu đựng các tia xạ độc hại, thà chết sướng hơn! Gặp trường hợp bệnh nhân nghèo, phải tốn kém vậy họ đành bó tay đầu hàng hết sao?

Bác quyết định không điều trị theo Tây y nữa nhưng cũng chưa tìm được thầy được thuốc… Trong khi sức khỏe bác thì ngày càng suy sụp.

Vậy mà thật bất ngờ, một hôm đang ngồi làm việc tại cơ quan tôi lại nghe vọng tới tiếng bác nói cười oang oang như lệnh vỡ. Bác tự chạy xe máy, cầm mấy bài thơ tình nhanh nhẹn bước lên cầu thang vào thẳng phòng tôi.

Tôi kinh ngạc nhìn bác hồng hào phương phi, râu và lông mày lẫn lộn đen trắng mọc ra rậm rạp, tóc cũng đang đâm tua tủa muối tiêu khắp quanh đầu. Trời, đúng bác Hy Râu đây rồi nhưng phương thuốc nào kỳ diệu đến thế? Bác không quản ngại phóng xe về, gom góp các loại giấy tờ có liên quan làm bằng chứng cho tôi xem.

Toa chỉ gồm 2 vị: Bán chỉ liên 1 lạng, Bạch hoa xà thiết thảo 2 lạng.
Hướng dẫn: ngâm, rửa sạch đất cát, cho vào siêu nấu cho sôi bùng, đảo thuốc rồi vặn lửa riu riu sao cho trong gần 2 tiếng đồng hồ từ 4 chén nước cạn còn 1 chén. 1 thang sắc 2 lần sáng chiều, uống nguội lúc bụng đói.

Thì ra năm ngoái, bác buồn buồn giở lại chồng sáng tác thơ ca lộn xộn ra xem, bất chợt bắt gặp xấp giấy chép mấy bài thuốc chữa nhiều loại bệnh từ 5 năm trước một người bạn (nay đã qua đời) gửi tặng song lúc khỏe bác chẳng để ý.

Giở bài “Thuốc bí truyền chữa bệnh ung thư” thấy quá đơn giản, bác nghĩ: Thôi thì lấy tấm thân này ra làm vật thí nghiệm xem sao. Lời giới thiệu cho biết đây là phương thuốc dược thảo thiên nhiên do một tù nhân Trung Hoa hiến lại cho đời trước khi bị xử tử, tuy đơn sơ nhưng “chữa được mọi chứng bệnh nội thương ngoại cảm mà đặc biệt là các loại ung thư.

Bác Hy tháng 4/2005: Khối u đã tan biến, tóc râu đang mọc

Một mặt nó giúp ta đề phòng bệnh tật, tăng cường sinh lực, kháng độc, miễn nhiễm. Mặt khác nó có thể trị dứt các chứng bệnh ung thư vú, lở loét nơi dạ dày, ruột gan, dạ con, tử cung, não, phổi. Đối với bệnh ung thư nặng có lở loét sau khi uống nếu đại tiểu tiện có ra máu mủ là dấu hiệu tốt…”.

2 vị thuốc này khá dễ tìm, song ở Buôn Ma Thuột bác Hy mua vừa mắc vừa mốc nên phân công cho cậu út tới các quầy thuốc đường Hải Thượng Lãn Ông, chợ Lớn TP Hồ Chí Minh mua mỗi thang có 8.000đ, gửi lên.

Ngày 17/5/2004, bác xuống BV ĐH Y Dược nội soi dạ dày, phiếu ghi : “Đoạn thực quản giữa cách cung răng 28 cm là 1 khối u cứng nham nhở dễ chảy máu làm hẹp lòng thực quản, không luồn máy qua khối u được”. Ngày 18/5/2004 bác bắt đầu sắc thuốc uống.

Những chén đầu tiên, vì phải nhỏ từng giọt vào cổ, bác uống cả buổi mới hết. Thấy đại tiểu tiện ra máu mủ giống như lời dặn, đến thang thứ 6 đã nuốt nhanh được, bác mừng, tạm ngưng, xuống BV Chợ Rẫy nội soi lại, phiếu ghi : “Cách cung răng từ 28-33cm có 1 khối u sùi to, bở, dễ chảy máu, làm hẹp lòng gần hoàn toàn. Giữa khối sùi có 1 lỗ giống đường dò”.

Bác uống tiếp. Các kết quả nội soi sau đó cho thấy khối u nhanh chóng teo lại, rồi tiêu biến hết vào cuối năm 2004, chỉ để lại vết sẹo trong thực quản sau khi bác uống hết 40 thang thuốc, tổng cộng có 320.000 đồng. Bác Hy khỏe hẳn, lên cân đều đều nay đã 57 ký, da dẻ hồng hào, tóc râu mọc lại. Và bác lại làm thơ, sáng tác nhạc, tới lui chơi với các “thi sĩ” câu lạc bộ Bốn Mùa…

Bác cẩn thận dặn: Phương thuốc bí truyền đó đối với tôi quả là tuyệt vời hiệu nghiệm. Tôi có phổ biến cho vài người, họ uống thấy cũng hiệu quả lắm. Nhưng thuốc có thể hợp với người này mà không hợp với người nọ, vả chăng bài thuốc chưa được giới chuyên môn kiểm chứng, nên để các nhà khoa học chú ý mà nghiên cứu, hồi âm. Bài thuốc mà được công nhận, phổ biến rộng rãi thì đỡ cho bệnh nhân ung thư, nhất là bệnh nhân nghèo biết bao nhiêu.

Hoàng Thiên Nga

Việt Báo (Theo_Tien_Phong)